Thanh Tâm Tuyền - Dạ Khúc

 Anh sợ những cột đèn đổ xuống 

Rồi giây điện cuốn lấy chúng ta 

Bóp chết mọi hy vọng 

Nên anh dìu em đi xa 

Ði đi chúng ta đến công viên 

Nơi anh sẽ hôn em đắm đuối 

Ôi môi em như mật đắng 

Như móng sắc thương đau 

Ði đi anh đưa em vào quán rượu 

Có một chút Paris 

Ðể anh được làm thi sĩ 

Hay nửa đêm Hà nội 

Anh là thằng điên khùng 

Ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới 

Chiếc kèn hát mãi than van 

Ðiệu nhạc gầy níu nhau tuyệt vọng 

Sao tuổi trẻ quá buồn 

như con mắt giận dữ 

Sao tuổi trẻ quá buồn 

như bàn ghế không bầy 

Thôi em hãy đứng dậy 

người bán hàng đã ngủ sau quầy 

anh đưa em đi trốn 

những giày vò ngày mai  


(Sáng Tạo số 22 tháng 7 năm 1958)

Nguồn: Ebook "Thơ Từ Sáng Tạo" - Thư Ấn Quán Xuất Bản 2014

Nguyễn Đức Sơn - Viết về L.L.LAN

Nhờ có nhạc sĩ Phạm Duy và tu sĩ Thanh Tuệ tôi mới đọc được một số thơ của Lan sau khi đã phải khó nhọc tìm kiếm gần cả năm trời (thư cho Phạm Duy 3 cái và Thanh Tuệ gần 20 cái ngoại trừ mấy cái quảng cáo mời gọi vô hiệu quả đăng trên 3 tạp chí phát hành rộng rãi nhất hiện nay là Thời Nay, Văn và Bách Khoa). Tôi phải đọc lại ngay vài câu thơ đầu tiên của tác giả mà tôi đã xem được cách đây gần 10 năm cho hả giận: 

 tôi đang mơ giấc mộng dài 

 đừng lay tôi nhé cuộc đời chung quanh 

 tôi đang nhìn thấy mầu xanh 

 ở trên cây cỏ rất lành rất thơm 

 Bình dị quá, tự nhiên quá, trong sáng quá (dù dĩ nhiên không phải đó là tất cả những tính chất làm tiêu chuẩn tuyệt đối cho thơ) và, sau cùng, con gái quá! Tôi vốn yêu vô cùng cái nữ tính tự nhiên và nồng đậm trong thơ đàn bà (dù tôi cũng yêu vô cùng những đứa con gái có đàn ông tính trong người chút đỉnh). Tôi nghĩ đó là yếu tố quyết định sinh mệnh của thơ họ. Nghĩa là dù họ có đả động đến cái gì, thơ đàn bà là phải làm toát ra cái hơi thở đàn bà từ ngôn ngữ, hình ảnh và âm điệu. Huống hồ là từ bản chất trời sinh, làm sao họ có thể làm cái gì lớn hơn ngoài cái việc bồng đứa con trong lòng. Tôi không thiển cận và lạc hậu đâu, bởi làm sao đào đâu ra một nữ thi hào đúng nghĩa trong văn học sử cổ kim trên mặt địa cầu này. (Có thể có biệt lệ biết đâu đối với những hành tinh có người khác). Đàn bà sinh ra là vậy. Họ có thể trở thành nhà đại bác học nhưng không thể trở thành một thi sĩ lớn đúng nghĩa tuyệt đối. Bởi vì dù có thể được bẩm sinh một cảm tính thật tế nhị và vi diệu, họ làm gì trải qua những nỗi đau đớn tuyệt đỉnh, hân hoan tuyệt đỉnh, cô đơn tuyệt đỉnh và nhất là có một tâm hồn thật rộng lớn một cách trường kỳ đi kèm theo cái cảm xúc sôi sục như điên thấy rõ ràng những tên đàn ông đặc biệt. Xem thơ đàn bà đối với tôi là thưởng thức cái hơi hám, cái tính chất gì khác biệt, cái âm tính mà giống đực như tôi chỉ có thể cảm chứ không bao giờ thấy chảy luân lưu trong máu được. Vậy thôi. Nhưng ở L.L.Lan, sau cái nữ tính tràn ngập trong những bài thơ có vần (ngũ ngôn, thất ngôn, lục bát) như trong đoạn thơ phân tích những màu sắc biến thiên phong phú vừa đáng kiêu hãnh vừa đáng âu lo của mình: 

 tôi đang nhìn thấy mầu hồn

 của tôi thay đổi luôn luôn theo trời 

 hoàng hôn mầu đỏ mây tươi 

 bình minh nắng trắng ấm trôi vào lòng 

 những vì sao tím rất trong 

 mảnh trăng vàng rỡ chờ mong tôi nhìn 

 Sau cái thao thức muôn đời của tình yêu (mà tất cả đàn bà dù siêu quần bạt chúng đến đâu cũng muốn dừng lại khi cập bến hôn nhân), có lúc Lan đã đi sâu vào cõi hoang tịch muôn đời của kiếp sống. Có lẽ bà đã đi quá sâu trong thế giới vỗ về của tình yêu bằng tâm hồn hơn là bằng thân xác nên đã nhìn thấy một cánh cửa mở vào cái cõi âm u ghê rợn này: 

 ta đi về chốn nào đâu 

 miên man trong cõi u sầu mênh mông 

 tái tê làm bước chân ngừng 

 ta đi lạc ở trong lòng đau thương 

Vâng, bà chỉ có thể đi lạc đường vào trong cõi đau thương mà thôi. Bà không thể nấn ná ở lâu hơn như đàn ông (dù là một người đàn ông đã có vợ và vô số nhân tình). Nhưng làm sao chúng ta đòi hỏi một người đàn bà phải kéo dài cái “thú đau thương” (chữ dùng của một thi sĩ tiền chiến) được, dù người đó xem ra rất tận tình, chung thủy và sẵn một tấm lòng hoài cảm mênh mông: 

 tay của người yêu run rẩy sang 

 từng trang vời vợi ôi từng trang 

 thời xưa còn lại bao nhiêu đó 

 bụi cũ bay mờ hoen không gian 

 Hãy nghe tác giả thở than kín đáo: 

 mùa thu này đến êm như khói 

 mưa cũng mong manh nắng cũng buồn 

 nên mỗi ngày qua như muốn nói 

 người yêu ơi sợ quá thời gian 


 đêm qua trong mộng rưng rưng khóc 

 thấy giữa mùa thu ngập lá vàng 

 một đóa linh hồn rơi lạc lõng 

 trong chiều tan tác ánh chiều tan 

Đọc đến đây tôi có cái cảm tưởng tất cả sắp chấm dứt. Và người xưa xa vắng trong tác giả cũng tan biến như sương khói nhường chỗ cho sự hiện diện cụ thể và chán chường của người vợ, người mẹ. Cho nên tôi không ngạc nhiên lắm khi thấy tất cả 6 bài thơ của Lan (do Phạm Duy cẩn thận đánh máy và sửa chữa từng chút cho tôi) đều ghi ngày tháng của một khoảng thời gian một năm (1959), một năm mà thôi, một năm thật thi vị của đời người con gái – tôi đoán. Nhưng Phạm Duy còn hứa khi khỏe sẽ bỏ công đánh máy thêm cho tôi một số nữa trong số 300 bài thơ còn lại của bà. Con số 300 bài mới thật làm tôi ngạc nhiên. Một người đàn bà đã viết được một số thơ nhiều như thế có thể đã vượt qua tình trạng một nhà thơ tài tử rồi. Nhưng ném một cái nhìn về mười lăm năm nay, rồi 30 năm trước rồi cả nghìn năm xưa ở đây, tôi đâm ra dè dặt; cho đến nay cái mảnh đất cong cong hình chữ S này – nơi tích tụ bao nhiêu nền văn minh thế giới và là nơi duy nhất chắc chắn đang làm một tổng - hợp - đề xương máu và kỳ diệu cho toàn thể thế giới – có sản xuất ra được một đấng quần hồng nào làm thơ chuyên nghiệp và sống quằn quại với thơ cho đến ngày xuống lỗ đâu. Không phải hỗn hào và vong ơn tiền nhân khi tôi phải nói thật: Đoàn thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan. v.v… dù có thông minh đến đâu đã có để lại cái gì đáng kể cho chúng ta lắm đâu. Dù sao tôi cũng muốn tin rằng mấy trăm bài còn lại của tác giả (mà tôi chưa hề đọc tới) một ngày nào đó, nếu có in ra, sẽ không làm tôi quá thất vọng như bao nhiêu trường hợp khác. Tôi cũng hy vọng sẽ gặp được một hai bài thật đạt và gần như toàn bích như hai bài tôi đã đọc cách đây gần mười năm; một bài lục bát nhẹ nhàng, mới mẻ, đầy hình ảnh, gợi cảm, sáng sủa với lời thơ dễ thương vô cùng nói lên được cái tâm hồn xao xuyến, lo sợ và tế nhị hiếm có của một đứa con gái ngập ngừng trước ngưỡng cửa của tình yêu và cuộc đời; một bài ngũ ngôn mang cái hồn vừa thản nhiên vừa lạnh lùng như trong thời đại phi thuyền không gian này: 

 chơi vơi trong niềm nhớ 

 mối sầu lên gần mây 

 trăng đã đi theo gió 

 tôi còn chờ nơi đây 

 Xin nhắc lại bài thơ này làm năm 1959, hai năm sau cuộc phóng chiếc vệ tinh nhân tạo 80 ký của Nga sô (vệ tinh thám hiểm không gian đầu tiên của nhân loại) mà thật ra từ sau hiệp định Genève 1954 nhiều người đã đoán trước và bàn bạc liên miên. Không hiểu một đứa con gái như tác giả lúc đó có lưu ý được gì đến bước nhảy thật dài đó của khoa học hay không. Không hiểu cô ta có giật mình khi ý thức rõ ràng cái mênh mông choáng ngợp của vũ trụ không. Chỉ biết cô ta biết tiết chế cái nữ tính vào cái tâm trạng bàng hoàng chung của thời đại: 

 có mối sầu bên cạnh 

 có mối sầu bên cạnh  

vẫn lạnh lùng hồn ơi 

 hương tình yêu mỏng mảnh 

 bay đi đâu xa rồi 

 để cho tình ý vừa đậm, vừa sâu, vừa xa vắng hơn. Càng đọc càng thấy nó dàn rộng ra mông lung. Vậy mà nó đã chịu nén trong mấy câu thơ năm chữ ngắn ngủi đó. Nó đã đạt có lẽ một phần nhờ vào đặc tính của thơ ngũ ngôn, một phần nhờ cái tài tự nhiên làm cô đọng cảm nghĩ của mình mà đồng thời không làm đặc ngôn ngữ, cái cạm bẫy của thơ ngũ ngôn luôn luôn giăng ra cho những anh chàng thi sĩ dáo dác và ham hố sa vào. Hãy đọc thêm một lần nữa hai câu: 

 có mối sầu bên cạnh 

 vẫn lạnh lùng người ơi 

 để thấy rõ ràng cái tâm hồn con gái không thường tình của bà. Tác giả đang yêu như mọi người, đó là cái chắc. Nhưng lọt vào cái thế giới đó rồi, đứa con gái là tác giả lúc ấy không nhắm mắt nằm yên để tận hưởng nỗi sầu mộng và nhớ nhung êm ái của mình. Bà đã không chịu dừng lại. Hay nói một cách chính xác hơn, cảm xúc đã dẫn bà chạy đi thật sâu đụng vào một cánh cửa mở ra một thế giới khác, thế giới thương yêu mà những tâm hồn lớn vẫn thường xuyên lui tới vừa như một biệt ân vừa như một hình phạt hay nghiệp dĩ: cảnh trời đất không cùng và nỗi đau khổ bao la nghìn đời của kiếp sống. Cho nên bà đã lạnh lùng, không phải lạnh lùng như một chứng bệnh tâm sinh lý bất hạnh nhất của riêng đàn bà, mà bởi cái cảm tính tinh vi cùng tâm hồn quá rộng lớn của tác giả. Không lạ gì khi thấy đứa con gái đang yêu đó đã nhìn thấy trong tâm tưởng: 

 hương tình yêu mỏng mảnh 

 bay đi đâu xa rồi 

 và trở về thực tại nặng nề có phần trơ trẽn, bứt rứt và chán chường: 

 trăng đã đi theo gió 

 thì còn chờ đợi ai 

 Đó cũng là một trong những bài thơ tình hay nhất, ít ra trong vòng mười lăm năm nay. Nó kết hợp tài tình tâm sự bé mọn riêng tư của một đứa con gái với cái tâm trạng chung bao quát của thời đại. Nó đánh bạo chở theo luôn cái không khí của thời đại và lấy đó làm không khí luôn cho bài thơ ngắn của mình. Thật khó tưởng tượng một đứa con gái làm thơ coi như tài tử là L.L.Lan lại thành công trong công việc đó. Vậy mà người ta không thể nào mổ xẻ xem những chữ nào, câu nào đã dung chứa được cái không khí âm u và cái tâm trạng mang mang đó. Bởi chữ và lời thì bình thường, còn kỹ thuật thì có gì cao và lạ đâu. Người ta chỉ thấy đứa con gái đó khôn ngoan chịu nhốt những ý tưởng của mình trong từng đoạn bốn câu thơ ăn cả vần trắc lẫn vần bằng xen kẽ nhau một cách chặt chẽ từ đầu đến cuối, như: 

 trời dài như tấm lụa 

 buông kín đầu ngàn cây 

 ngàn cây mê ngủ quá 

 gió lay hoài không hay 

 Mà tứ thơ lại vô cùng tự nhiên, nhẹ nhàng, chơi vơi (1) 

 Có phải thật sự một số luật lệ cố hữu nào đó trong thơ như vần điệu muôn năm vẫn là nơi thử lửa rực rỡ nhất của nhân tài hay không. Có phải đôi khi luật thơ càng chặt chẽ, thi tài càng phát hiện ngùn ngụt như bốc khói hay không. Có phải những phong trào thi ca Đa Đa, Dã Thú v.v… ở Âu châu tuy có khác nhau nhưng đã cùng đua nhau phá sản và đổ ào ào bởi vì muốn tiêu hủy hết những luật lệ mang tính chất gần như tiên thiên của thơ như vần điệu và sự liên hệ mật thiết giữa cách diễn tả và tư tưởng hay không. Người ta đã hô hào đi tìm lại cái có thể gọi là sự thật đích đáng hay chân lý chơi vơi ngoài những giao ước mặc nhiên và tự nhiên của ngôn ngữ. Những kẻ đứng đầu gió (chứ không phải những kẻ theo đuôi một cách vô ý thức) những phong trào này thật ra đã cảm thấy chới với cái bất lực của ngôn ngữ và cái lý sự đã cùng đường của mọi lý luận và mọi cảm nghĩ. Họ đã quằn quại đến cái độ tưởng như sắp điên thật rồi. Đó là cả một nhược điểm. Bởi vì họ đã không thâm trầm như những thi sĩ Đông Phương biết mình biết người, biết âm biết dương, biết trời biết đất để điều tiết những cựa quậy và vùng vẫy của ý thức mình. Mà trên hết cũng chỉ vì họ kém tài. Cho nên họ đã đưa thơ họ vào con đường cụt của sự tự sát ngu xuẩn nhất.

Nói như thế không phải lạc hậu, bảo thủ để đi đến chỗ không chấp nhận ngay những phá phách rực rỡ của thơ tự do. Tuy nhiên chúng ta chỉ công nhận những phá phách có thật và mạnh mẽ phát xuất tim máu óc não do cảm xúc bắn vọt ra hay đẩy tới từ từ mà kinh nghiệm cá nhân của tác giả viết bài này đã trải qua khi viết bài “Độc thoại” cách cả 10 năm:

 đàn ông thì có lông 

 đàn ông thì có một cái đầu 

 đàn ông thì tự sát 

 đàn ông thì còn sống 


 ô đàn ông đàn ông

Tôi đã dày công bỏ cả tháng trời với ý định thử rút cái ý tưởng cùng khí lực ngắc ngoẻo của bài thơ trên nhét vào một bài thơ thường (bốn chữ, năm chữ, sáu chữ, bảy chữ…có vần điệu đường hoàng) để xem thử nó có còn thơ và nhất là có gọn ghẽ, dễ nhớ hơn không. 

 Tôi đã thất bại hoàn toàn. Trước hết chúng không có cách chi hoàn hảo như những đoạn ngũ ngôn, tứ tuyệt có vần điệu thẳng rẵng ví dụ cũng của tôi như:

 một đêm trăng mờ ảo 

 anh tìm về thăm em 

 phố buồn như hoang đảo 

 gió ngừng ru bên thềm

của một người bạn trẻ là Đặng Tấn Tới: 

 mai kia ai ngờ 

 lòng cũ như mơ 

 lên con tàu mới 

 chạy về ban sơ 

 níu song cửa sổ 

 khóc ròng cảnh xưa

của một thi sĩ người Nam có tài là Trần Tuấn Kiệt: e

m hát trong rừng sao 

 tôi ngủ dưới cội đào 

 chợt mùa đông tuyết phủ 

 biết tìm em phương nào 

 và ngay cả của nhà thơ tài tử L.L.Lan: 

 chung quanh đêm tan mãi 

 từng làn ánh sáng phai 

 tôi nghe hồn run rẩy 

 chiếc bóng gãy làm hai

Tôi đã sẵn trớn đi xa hơn giới hạn một bài viết về một thi sĩ, một nữ thi sĩ, một nữ thi sĩ tài tử, một nữ thi sĩ tài tử ẩn danh hầu như chưa có độc giả nào biết là L.L.Lan. Tôi thật buồn khi được biết là tác giả đã bỏ làm thơ. Tôi thật chán nản khi biết rằng nếu tác giả có tiếp tục cũng chỉ rước lấy thất bại có thể tác giả chưa hề nếm mà thôi. (1) 

 Ôi! định mệnh đối với những thi sĩ Việt nam - nhất là đối với những nữ sĩ – sao khắt khe quá vậy! Họ sống quá ngắn với cái tuổi của thơ so với tuổi đời của họ. Riêng đối với L.L.Lan, người đã làm một số thơ kỷ lục bất ngờ về phía các nữ sĩ (trên 300 bài thơ theo lời nhạc sĩ có tài soạn lời ca rất thơ là Phạm Duy), chúng ta có lý do gì đặt một chút hy vọng gì không? Tôi cảm thấy một nỗi đau thương dịu dàng khi đã sinh cùng thời với tác giả mà không được gặp. Nhưng mà tại sao chúng ta lại tham lam như thế, không sợ cái hồn nữ sĩ của thời con gái với những tháng ngày mộng mị và thao thức trở về van xin hay sao: 

đừng lay tôi nhé cuộc đời 

 tôi còn trẻ quá cho tôi mơ màng 

 Nguyễn Đức Sơn (1) 

LTS: Toà soạn bỏ một số câu ở đoạn này. 

 Nguồn: Bách khoa – Ngày 15/10/1969, Số 307. 

Thư Quán Bản Thảo in lại, Số 50 tháng hai năm 2012

Trần Hoài Thư - Đi tìm Vũ Hữu Định ở Mỹ

 Trong một căn phòng rộng mênh mông của thư viện đại học Cornell NewYork, đầy dẫy kệ ngăn san sát, nơi này đã chứa đựng những di sản về văn hóa của toàn thế giới. Có ai ngờ một tạp chí như Tiếng Ðộng, tiếng nói của Ban đại diện Ðại Học Xá Minh Mạng vào năm 1971, hay Trước Mặt do Phan Nhự Thức chủ biên trước 1975 ở Quảng Ngãi lại nằm giữa kệ sách. Có ai có thể ngờ một tập san Bộ Binh của khóa 23/24 Thủ Ðức vào năm 1966 lại được đóng lại bìa cứng, có mặt tại đây. Cũng thật không thể tưởng tượng có những nội san của các trường trung, đai học miền Nam trước đây được cất giữ. Ðó là những ví dụ để nói lên sự giữ gìn và bảo tồn văn hóa nhân loại của một đại học Hoa Kỳ. Nó không có màn kỳ thị, không kẻ thắng người thua. Không trả thù. Không kết án nọc độc để rồi đốt hủy... Nó chẳng cần phân biệt hay ưu đãi ai. Sách nào cũng được bảo bọc tối đa, bìa cứng, chữ nổi. Nếu là tạp chí quá cũ thì được bỏ vào hộp carton, cột dây cẩn thận.  

Không những chỉ có căn phòng rộng lê thê này để cất giữ di sản văn chương miền Nam mà còn có cả một tòa nhà khác nằm riêng biệt ngoài vòng đai của khuôn viên đại học cũng chứa các tạp chí và sách báo của miền Nam thuộc lọai quá khổ. Nơi này, có những tập như Khởi Hành đóng bộ, hay nguyệt san Ðời, hay những bộ nhật 6 báo Chính Luận, Tin Sáng, Ðiện Tín v.v... Nhưng đừng mang ra ngoài hay xé. Coi chừng tiếng hú báo động đấy. 

*

...Nơi đây không có ngăn riêng dành cho nhà văn lớn hay nhà văn nhỏ. Không người nổi tiếng hay kẻ vô danh. Bên cạnh tập thơ của Tố Hữu là tập truyện của Nguyễn Mạnh Côn. Bên cạnh những tập sách mỏng do nhà xuất bản Quân Giải Phóng xuất bản nằm bên cạnh những tác phẩm của Cục Chỉnh Huấn QLVNCH. Sách của kẻ chiến thắng nằm bên sách của phe chiến bại. Bên cạnh một cuốn sách đóng bìa công phu, phụ bản nhiều màu, tranh bìa của họa sĩ tên tuổi vẽ, là một tập sách nghèo nàn, đơn sơ, đến tội tình. 

Chỉ có kẻ đọc mới có quyền thẩm định và lựa chọn. Cho dù cuốn sách có mạ vàng, giấy loại hoa vân, bìa cứng hay cho dù tranh bìa được vẽ bởi một họa sĩ hàng đầu đi nữa, cũng không thể thu hút quyến rũ được hắn. 

Riêng tôi, tôi chọn Vũ Hữu Ðịnh. 

Thứ nhất là anh thuộc thế hệ chúng tôi.. Dù thời sinh tiền, anh chưa có một tác phẩm nào xuất bản, nhưng không hẳn vì thế mà thơ anh lại không được nhiều người ưa thích. Riêng bài thơ Còn một chút gì để nhớ đã đi vào tâm trí chúng tôi không ít thì nhiều, thời ấy.   

Nói đến VHÐ là nói đến một người bạn giang hồ, và những cốc rượu bốc cháy. Có người trách anh bỏ bê gia đình, vợ con để theo tiếng gọi của những phần rượu tặng. Có lẽ những bài thơ về rượu này khá phổ biến, nhưng họ làm sao hiểu được nỗi lòng của Ðịnh và lý do tại sao anh 7 lại phải xa người mẹ bệnh hoạn, xa vợ con, xa quê. Từ ba năm làm lính biên trấn mà Ðồn cheo leo đón gió/Bốn mùa phên mây che/ Ðất trời đây một cõi/Nhốt đời chưa cho về rồi những tháng năm luân lạc, chấp nhận làm một người con bất hiếu, một người chồng một người cha không chu toàn trách nhiệm, để được sống, để được tiếp tục làm thơ, tiếp tục dâng hiến cho đời, cho người đọc những bài thơ đẹp, hay, để đôi lứa càng thương yêu nhau, để Pleiku càng đi vào trong tim của chúng ta, bằng tóc em mướt và mắt em ướt, để bọn trẻ chúng tôi thời ấy, cả tháng không thấy đàn bà, không thấy cả một tờ tạp chí,được an ủi rằng may mà có em đời còn dễ thương...trong khi đêm ngày tai như muốn bức màn nhỉ vì trái pháo và tiếng trực thăng cùng những núi đồi vây hảm khó có thể thoát được ra ngoài.

Hãy hiểu nỗi lòng của Ðịnh. Hãy thương lấy Ðịnh qua những giòng tâm sự đành đọan não nùng khi anh viết về người vợ của anh: 

Lần nào em sinh nở

ta cũng phải vắng nhà

tháng này em sinh nở 

ta lại trên đường xa

..... 

cám ơn người vợ khổ 

chiều nay ta khóc thầm 

uống những giọt rượu đắng

ngày xa quê long đong


Trách anh hay trách hoàn cảnh, thời thế ? 

... May mà có em đời còn dễ thương... 

Vâng. Nếu cảm ơn thành phố ấy có em, thì cũng cần phải cảm ơn VHÐ của chúng ta nữa. 

Ðể rồi từ đó, những chuyến đi đi về về thư viện Cornell, Library of Congress, dặm dài thăm thẳm, qua đồi, qua đèo chập chùng, để chúng tôi nói với lòng, anh VHÐ chúng tôi đi tìm VHÐ đây. Rồi những chồng tạp chí cũ mà người phụ trách mang đến cao ngất, cứ lật và cứ lật miệt mài. Nơi nào có cõi thơ anh trú ngụ ? Tạp chí nào, số nào để có thể mượn mà tìm ra dấu vết thơ anh ? Trang giấy nào có tên Vũ Hữu Ðịnh dù chỉ một hai giòng nhất là ở giữa xứ lạ quê người mà việc sưu tập di sản văn chương miền Nam chỉ biết trông cậy vào các thư viện Mỹ ? 

Nhưng chúng tôi tin hương hồn anh sẽ phù trợ việc làm của chúng tôi, hà hơi tiếp sức chúng tôi vượt tất cả những trở ngại khó khăn. Ðể rồi những lần lên đường vào bốn giờ sáng, khi đêm bưng bít cùng tuyết rơi mịt mùng. Và những lần trở về, một mình trong đêm, giữa xa lộ đầy ánh đèn xuôi ngược, hay qua dốc đèo hiu quạnh, có khi lạc qua một thị trấn quờ quạng tìm lối ra, không phải đi năm phút đã về chốn cũ mà đi một phút đã về chốn cũ, mắt lão như không thấy đường nhưng lòng thì vui thật là vui. Bởi vì mỗi lần trở về là những bài thơ VHÐ làm bạn đồng hành, nằm bên cạnh...để cho mình quên cả nhọc mệt, mà nhấn mạnh bàn đạp gia tốc...

Tập thơ này là một tập thơ được may mắn. Với tổng số 80 bài ( tập thơ in trong nước chỉ có 45 bài), nó không phải bị nộp lưu chiểu hay phải chịu qua giấy phép xuất bản nào để phải chịu cắt xén hay thay đổi cho phù hợp với chế độ đương đại. Sách dày 170 trang, gồm 2 phần. Phần đầu Dẫn Nhập và phần hai là thơ sưu tập. Riêng lần xuất bản này, chúng tôi "chơi sang" : Bìa sách được in bằng lọai nhũ kim (gold metallic and golden foil), và giấy toàn là giấy loại đặc biệt. Dành chỉ tặng nếu có yêu cầu. Không bán. Xin nhắc lại dành để tặng khi có yêu cầu. Ðể chứng tỏ cùng Ðịnh là đám bạn bè tuổi ngựa của anh dám chơi đẹp, chơi sang và chơi hết mình vì bạn! 

Chúng tôi xin được để tập thơ này bên cạnh phần rượu tặng trong ngày giỗ thứ 25 của anh.

Mai Thảo - Đứng về phía những cái mới

 MƯỜI SÁU NĂM NAY, ĐƯỢC THAM DỰ GẦN như liên tục vào sinh hoạt nghệ thuật miền Nam, một hiện tượng sinh hoạt tuy hỗn loạn chia mở thành trăm đường nghìn ngả, tựu trung vẫn chỉ là lịch sử tiến trình biện chứng của những trào lưu cạn dòng phải nhượng bộ rút thoát cho những ngọn triều lớn dậy thay thế — quy luật tiến trình của nghệ thuật y tạc quy luật đời sống : lúa kia chưa gặt, mạ mới đã mọc, trái cũ chưa rụng, đã đài xuân hé cánh - may mắn trước sau tôi nhận là lớn và tốt nhất cho mình vẫn là được gặp, được gần những cái mới. Đứng cùng chỗ với những người đang cấy những chùm sao không phải những đời sao đêm trước lên một vòm trời văn học. Ở cùng một phía với những ban mai đang phát khởi đang hình thành. Tóm lại, được trồng cấy cái đất đứng nhỏ chật của mình nơi có gió vào mùa, triều nước dậy, lửa đốt rẫy, rừng khai quang, ở đó có những khám phả vang động của văn chương, những lên đường sầm uất của nghệ thuật. Gần, không có nghĩa tôi ra khơi cùng thuyền. Nhưng đích thực là chỗ tôi đến, đã tả hữu những đoàn thuyền lớp lớp lìa bến. Không thể khẳng định tôi đã được hòa nhập tận cùng vào khởi hành lớn. Nhưng đích thực là từ mười sáu năm, tôi đã được hội ngộ thường hằng với những nắng sớm, những chân trời, những thênh thang dặm biếc, những tấp nập dặm hồng, là cái phía duy nhất tôi thành thực nghĩ vẫn có những mặt trời liên tiếp mọc, tạo thành cái phương đông sáng hồng của văn học nghệ thuật ta tuy cải đầu đã rực rỡ tương lai, cái đuôi còn tối đen quá khử.

May mắn vừa nói, không phải người viết nào cũng có được. Ta đến với văn chương, từ những cửa ngõ rất tình cờ. Nghệ thuật không hề là một tiềm ẩn phảng phất sẵn có trong cấu thành khởi thủy của con người. Mà là một réo gọi thình lình, một thức tỉnh bất chợt. Ném mình vào sinh hoạt, bằng kết nạp những bạn đường, kiểm tìm những đồng điệu, ngoại trừ những trường hợp hiểm hoi tự thành trong cô đơn một đời, là trường hợp của thiên tài lạc phách xuất chủng, kết nạp và kiểm tìm ấy cũng vậy, thường chứa đựng rất nhiều may rủi ở bên trong. Cái bước khởi đầu không may đặt lạc trên một thước đất xấu kiệt, một vũng lầy lủn ngập, vươn phóng có ngoạn mục, trở thành có rực rỡ đến mấy cũng muôn vàn khó khăn cực nhọc. Như cái chuyện nhằm hướng tây mà tới, chỉ thấy hoàng hôn và lặn mặt trời. May mắn hơn, nếu được từ một thước đất mỡ màng sinh động khởi sự đấu chân, thì khởi điểm tốt cũng là bàn đạp tốt và dàn phóng tốt. Vây kín bởi tầng tầng khô mục tàn lụi, mầm hạt nào đội được đất mà lên. Trên một dòng suối chết, sỏi cũng bất động, thôi lăn thôi hát. Suối mở một nguồn đầy, sỏi thuận dòng kết liên với cái róc rách, hỗ tượng bởi cái nhịp ào, sỏi thuận chiều sỏi cũng lăn theo. Đó là cái chuyện sống cùng với những đấng bình vôi anh nhỏ quắt từng ngày. Cái sự ở giữa những râu dài lụ khụ tuổi anh chưa ba mươi đã ăn mừng thượng thọ. Cải việc xuống lầm một con thuyền mục nát, thì đắm chìm ngay từ mái chèo lìa bến đầu tiên,

Mỗi nền văn học nghệ thuật đều hầm chứa và biểu hiện theo nó một sinh hoạt đặc thù. Chính là từ một lối, một kiểu sinh hoạt nào đó, mà một thời kỳ văn học có mầu sắc thể kia, một trào lưu nghệ thuật có hình thái ấy. Và ngược lại. Sinh hoạt của một nhà văn và tác phẩm y là hai tấm gượng đối diện phản ánh và giải thích lẫn cho nhau, về con người nhà văn và thực chất tác phẩm. Nếu văn chương Pháp có thật nhiều điềm khác biệt với văn chương Hoa-kỳ, nếu thơ văn miền Bắc không có một đồng dáng nào với thơ văn chúng ta, và nếu trong những tác phẩm nghệ thuật bây giờ, cái ngôn ngữ biểu hiện, cải thái độ nhận thức xã hội và đời sống là một tương phản toàn điện với ngôn ngữ, và nhận thức tiền chiến, chính là bởi vì cùng với tiến trình lịch sử, nhà văn hiện đại đã khởi hành trong một không khí mới, hòa nhập với một sinh hoạt không còn là cái kéo dài của sinh hoạt xưa cũ. Tạp chí Sáng Tạo, với một số sáng tác in lại thành tuyên truyện này, được may mắn chào đời trong cái không khí đầu mùa tôi vừa nói tới. Bấy giờ là vào khoảng hai năm 1956, 1957. Những dấu chân một triệu của vượt tuyến kín trùm đất nước, vừa đặt xuống những ruộng đồng và những rừng núi mênh mông bát ngát của miền Nam. Những hành trình trong đêm tấp nập cặp bến lúc ngày dựng. Buồn của lúc đi nhạt nhòa trước vui của lúc tới ngây ngất rực rỡ. Cái hầm đá hun hút tối thẳm đã ra khỏi, triển vọng lớn lao nhất cho từng đời sống là tất cả lại được khởi lại từ đầu. Lịch sử và chuyên đồi tàn nhẫn đột ngột của thời thế đẩy trọng tâm đời sống từ một vùng trời này tới một vùng biển khác. Nhưng cái hướng xô đẩy đích thực là từ sau lưng đẩy về trước mặt, từ quá khứ đẩy vào tương lai. Hình ảnh của những vì sao bỏ lại trong không gian không bến bờ, của những chiếc phi cơ cất bổng mình khỏi phi đạo, của những thuyền mảng vượt biển lênh đênh, của những ánh lửa đầu đêm hạ trại, những cột nhà mới dựng, những đất rừng khai hoang, những đất đồi phá rẫy, cùng là những dấu chân lớp lớp rượt đuổi nhịp đời quay gấp, không phải là những ảnh hình trừu tượng của một mơ tưởng làm mới, mà là những hình ảnh sinh động bay múa bắt gặp từng giờ từng phút trong sinh hoạt từng người. Đến với cái náo nức hân hoan, lặn mình vào cái bàng hoàng dội đập, gió trong tóc lộng lộng, nắng trên ngực trần chói lọi, cả một lớp người của những ngày không quên ấy chỉ còn nhìn thấy một con đường duy nhất là cái hướng trước mặt thênh thang. Những xâu chuỗi nhớ thương quá khứ đẫu lướt thướt, bởi mất mát có thể xem như một mất mát tận cùng, nhưng nhìn cho kỹ, trên cái toàn diện của tâm thức xao động, đã những nan quạt mới của tâm hồn xòe mở, và ý thức trở chiều đã phát đi những tia hồng ngoại tuyển cho những điệu đàn chan hòa ánh sáng ngân lên. Không khí cũ, không thở cùng được nữa. Những khuôn vàng thước ngọc xưa không còn đo lường được những kích thước bây giờ. Và đời sống là đi tới. Không lùi, không giậm chân một chỗ.


Trong một thực trạng đầy đặc những chất liệu của sáng tạo và phá vỡ như vậy, văn học nghệ thuật mặc nhiên không thề còn là tả chân Nguyễn Công Hoan, lãng mạn lối Thanh Châu, những khái niệm Xuân Thu, những luận đề Tự Lực. Mà vươn phóng từ một thoát ly đề đưa tới một hình thành, hóa thân từ một chặt đứt, bằng những thi nghiệm và những khám phá, chứng minh rằng cái bây giờ ta đang sống tuyệt đối không còn một đồng đảng một đồng tính nào với cái hôm qua đã tách thoát đã lìa xa. Chất nổ ném vào. Cờ phất. Xuống núi, xuống đường. Ra biển ra khơi. Và cuộc cách mạng tất yếu và biện chứng của văn chương đã bắt đầu. Và thơ bây giờ là thơ tự do.

Mấy năm mở đầu cho chuyển mình sầm uất đó của văn học nghệ thuật hiện đại ở phía chúng ta, cũng là khoảng thời gian tờ Sáng Tạo được có mặt, như một trùng hợp nhiều may mắn, nhìn vào sinh hoạt chung, tôi được chứng kiến thật nhiều hiện tượng phấn khởi, những hiện tượng ấy báo hiệu cải mới, làm thành những cái mới. Như lớp người thưởng ngoạn đã từ chối những cái sao chép, những cái nhai lại, không chịu đề dẫn đưa vào sâu hơn nữa, những nẻo thuộc, những lối mòn. Như sự suy giảm trông thấy về tác động và ảnh hưởng của một số tác phẩm cũ, nhiều tác phẩm từng được tôn sùng suốt mọi thời như những ngọn đỉnh cao nhất có thể đạt tới của ngôn ngữ. Như những luồng gió mới đã từ những chân trời xa thổi vào căn phòng văn chương khép kín cùng quá khử, mở những khung cửa, đem tới khí trời và ánh sáng. Nhưng hiện tượng đằm thắm rực rỡ nhất, mang tính chất quyết định nhất, cho cách mạng ngôn ngữ, cách mạng nghệ thuật, chính là sự có mặt, đi vào sinh hoạt và sáng tác của một lớp người viết mới. Hiện nay thì những người viết mới của chúng ta không thiếu, mỗi ngày mỗi thêm, càng ngày càng nhiều. Hàng chục diễn đàn đang dựng thành những đất đai mới cho những người viết mới họp mặt và lên tiếng. Văn học nghệ thuật ta bây giờ có cái hiện tượng thường xuyên ấy, là tuổi trẻ hàng hàng lớp lớp đi vào văn chương như nước vỡ bờ. Nhưng những người viết mới tôi muốn nói đến trong bài vào tập này là đoàn ngũ đầu, đơn vị một, những người đã có mặt trong cuộc khởi hành gió sớm, khi cái không khí văn học tranh tối tranh sáng vừa dấy còn mờ mờ bóng đất bóng trời. Sự có mặt ấy có thể xem như một đánh dấu, định nghĩa như một mở đường, chuyên chở trong nó đầy đủ yếu tính của một vận động văn học tiền phong, hàm chứa hẳn hòi trong nó một ý hướng cách mạng nghệ thuật nồng cháy. Đó là những ánh lửa thắp lên trong đêm nhận đường, những hòn đá ném xuống một ao tù bất động, những đợt xung kích đầu tiên mở màn một chiến dịch cho tới bây giờ đang được tiếp tay hào hứng trên nhiều diễn đàn, trên nhiều mặt trận. Trước sau, đối tượng của trận đánh lớn vẫn là một: phá đổ cái cũ, tạo dựng cái mới. Nói một cách khác, đó là kết thành của hoài bão và khát vọng chân thành nơi một lớp người muốn tạo dựng một nền văn học nghệ thuật của chính mình, và thời đại mình. Gọi lên đường ấy là trở lại đời sống, thoát ly quá khứ, thức tỉnh ý thức, thế nào cũng được. Điều đáng ghi nhận là lên đường ấy đã có. Có với sự có mặt của một lớp người viết mới. Tạp chí Sáng Tạo là một trong những diễn đàn đã được dự phần vào lên đường này.

Lên đường này, theo ý tôi là một cần thiết, không riêng cho một ai mà cho tất cả mọi người. Khi tờ Sáng Tạo tạm đình bản rồi tục bản lại sau đó, vẫn chỉ nhìn thấy cho văn học nghệ thuật, ta sự cần thiết của một lên đường đã khởi dấy, còn phải đầy tới và mở rộng hơn nữa, tôi đã viết trong bài vào tập cho số Một, bộ Mới :

« Nhìn trở lại ba mươi mốt số báo xuất bản liên tục trong bốn năm qua, tạp chí đã làm được những gì trên ý hướng và mục đích hình thành một nền nghệ thuật mới, nó không vay mượn, nói được chúng ta, xứng đáng tiêu biểu cho con người và đời sống hiện đại ? Một số thí nghiệm táo bạo, sự có mặt rực rỡ của lớp người viết trẻ, những bước trở lui cần thiết thể hiện trong việc quy định lại một số vấn đề văn học chính yếu, thái độ hướng dẫn mở đường cho những tài năng mới đến từ đám đông hay tự thành trong cô đơn, sự chấp nhận những ý tưởng khác biệt cùng lên tiếng trong không khí bằng hữu và tinh thần độc lập của diễn đàn này, cố gắng đạt tới tinh lọc nghệ thuật diễn tả qua phần sáng tác, những đặc tính đó đã tạo nên sắc thái độc đáo, đúc kết thành truyền thống nghệ thuật của Sáng Tạo. Nhưng chúng tôi thành thực nhận rằng chúng tôi chưa làm được gì. Tạp chí, mặc đầu uy tín đã đạt được, vẫn chưa thực hiện được những bước đi dài lớn về phía bên kia, phía tượng hình cho những khoảng thiếu vắng lớn lao, như một miền đất hoang vu chưa khai thác. Trên sự thiếu vắng này, tạp chí chọn làm điềm khởi hành mới... ».

Ở một đoạn khác, là một nhận thức chung:

« Nghệ thuật hôm nay phải nói được chúng ta, trình bầy được tâm trạng, đời sống lớp người chúng ta, nếu không nó sẽ chẳng bao giờ nói được gì hết. Nghệ thuật không còn là một giải thoát, niềm an ủi vỗ về, sự trốn chạy khỏi đời sống, bàn tay xoa dịu con người lãng quên trong chốc lát những ảo tưởng hư ngụy, những thảm kịch, những vấn đề mà một ý thức soi chiếu xuống những tầng đáy sâu thẳm của tâm linh, xuyên qua những biến động ngoại cảnh đã lột trần chúng ra trong những quằn quại và những kêu gào đòi được biết đến. Nghệ thuật hôm nay không còn là liều thuốc an thần. Nghệ thuật hôm nay là vũ khí hành động của con người vĩ đại lớn lên trong thức tỉnh của ý thức. Nó phải đánh vào những miền bóng tối, những hoa lá ngụy trang che giấu đời sống. Nó phải có mặt ở khắp nơi, ở bất cứ nơi nào dự phần vào đời sống chúng ta. Nó phải nói được tất cả : những đau đớn vò sé, những thất vọng chán chường, những chiến thắng, những lần thất bại, nỗi hoang mang kinh hoàng, niềm vui tin lấy lại, những băng hoại sa đọa đau thương, những trở chiều, những phục sinh dũng cảm. Nó phải trình bầy được những biểu lộ khác biệt, những mâu thuẫn rối rắm, những khía cạnh sinh động của con người thời đại trên hành trình đi vào trọng tâm và bản thề đời sống, khám phá ở gốc nguồn và nền tảng tất cả sự thật về mình, những nguyên tố liên quan thiết yếu đến đời mình. Nghệ thuật đó không dẫn tới quan niệm phi lý, chối bỏ đời sống. Tâm trạng đào sâu vào lòng sự vật, phá bỏ những sự thật đã có, khiến nghệ thuật được định nghĩa như một hành động, một hành trình, chỉ là biểu tỏ nồng nàn niềm khát khao chân thành muốn đạt tới, muốn nắm vững sự thật của con người thời đại chúng ta. Ở một mặt khác, nghệ thuật đó đánh dấu cho sự có mặt, quyền năng và tác động ghê gớm của con người đứng trước, đi qua sự vật. Nó mang chứa hình ảnh một sức mạnh chủ động. » . 

Mười lăm năm đã đi qua, từ những dòng chữ cũ. Tờ Sáng Tạo chết. Văn học nghệ thuật ta trưởng thành đang phát huy rực rỡ trên những diễn đàn mới. Đời sống không đứng lại. Nghệ thuật thì không ngừng đổi thay theo đời sống đi tới, và nhà văn luôn luôn đứng trước những vấn đề mới đặt ra, từng phút từng giờ. Nhưng với riêng tôi, nếu bây giờ lại được viết bài mở đầu cho một diễn đàn mới dựng, những ý nghĩ và nhận thức tôi chắc chắn cũng chẳng ra ngoài cái muốn nói của những dòng chữ cũ. Là nghệ thuật ta đã và vẫn còn phải là một lên đường. Bằng những thí nghiệm không ngừng. Bằng những khám phá không mỏi. Tiến trình tốt đẹp và biện chứng của văn học nghệ thuật ta cuối cùng chính là tiến trình của những ngọn đuốc chuyền tay, những đoạn đường cộng lại. Tạp chí Sáng Tạo, nếu được nhắc lại ở đây, cũng chỉ là một chặng đường nhỏ của đường đài và hành trình lớn. Tờ báo cũ ấy chỉ muốn như vậy. Tự nhận cho nó như vậy. Cũng trên tinh thần này, mà tôi nghĩ có thể nói thay cho những tác giả có sáng tác in trong tuyển truyện này, là những sáng tác sau đây cũng chỉ là đánh đấu cho một chặng đường đã bỏ lại và đã đi qua. Bởi vì ở cuối đường vẫn đầy đặc, vẫn rực rỡ những cái mới khác đang chờ người đi tới.


mai-thảo 

(8-1970)