Nguyễn Đức Sơn - Viết về L.L.LAN

Nhờ có nhạc sĩ Phạm Duy và tu sĩ Thanh Tuệ tôi mới đọc được một số thơ của Lan sau khi đã phải khó nhọc tìm kiếm gần cả năm trời (thư cho Phạm Duy 3 cái và Thanh Tuệ gần 20 cái ngoại trừ mấy cái quảng cáo mời gọi vô hiệu quả đăng trên 3 tạp chí phát hành rộng rãi nhất hiện nay là Thời Nay, Văn và Bách Khoa). Tôi phải đọc lại ngay vài câu thơ đầu tiên của tác giả mà tôi đã xem được cách đây gần 10 năm cho hả giận: 

 tôi đang mơ giấc mộng dài 

 đừng lay tôi nhé cuộc đời chung quanh 

 tôi đang nhìn thấy mầu xanh 

 ở trên cây cỏ rất lành rất thơm 

 Bình dị quá, tự nhiên quá, trong sáng quá (dù dĩ nhiên không phải đó là tất cả những tính chất làm tiêu chuẩn tuyệt đối cho thơ) và, sau cùng, con gái quá! Tôi vốn yêu vô cùng cái nữ tính tự nhiên và nồng đậm trong thơ đàn bà (dù tôi cũng yêu vô cùng những đứa con gái có đàn ông tính trong người chút đỉnh). Tôi nghĩ đó là yếu tố quyết định sinh mệnh của thơ họ. Nghĩa là dù họ có đả động đến cái gì, thơ đàn bà là phải làm toát ra cái hơi thở đàn bà từ ngôn ngữ, hình ảnh và âm điệu. Huống hồ là từ bản chất trời sinh, làm sao họ có thể làm cái gì lớn hơn ngoài cái việc bồng đứa con trong lòng. Tôi không thiển cận và lạc hậu đâu, bởi làm sao đào đâu ra một nữ thi hào đúng nghĩa trong văn học sử cổ kim trên mặt địa cầu này. (Có thể có biệt lệ biết đâu đối với những hành tinh có người khác). Đàn bà sinh ra là vậy. Họ có thể trở thành nhà đại bác học nhưng không thể trở thành một thi sĩ lớn đúng nghĩa tuyệt đối. Bởi vì dù có thể được bẩm sinh một cảm tính thật tế nhị và vi diệu, họ làm gì trải qua những nỗi đau đớn tuyệt đỉnh, hân hoan tuyệt đỉnh, cô đơn tuyệt đỉnh và nhất là có một tâm hồn thật rộng lớn một cách trường kỳ đi kèm theo cái cảm xúc sôi sục như điên thấy rõ ràng những tên đàn ông đặc biệt. Xem thơ đàn bà đối với tôi là thưởng thức cái hơi hám, cái tính chất gì khác biệt, cái âm tính mà giống đực như tôi chỉ có thể cảm chứ không bao giờ thấy chảy luân lưu trong máu được. Vậy thôi. Nhưng ở L.L.Lan, sau cái nữ tính tràn ngập trong những bài thơ có vần (ngũ ngôn, thất ngôn, lục bát) như trong đoạn thơ phân tích những màu sắc biến thiên phong phú vừa đáng kiêu hãnh vừa đáng âu lo của mình: 

 tôi đang nhìn thấy mầu hồn

 của tôi thay đổi luôn luôn theo trời 

 hoàng hôn mầu đỏ mây tươi 

 bình minh nắng trắng ấm trôi vào lòng 

 những vì sao tím rất trong 

 mảnh trăng vàng rỡ chờ mong tôi nhìn 

 Sau cái thao thức muôn đời của tình yêu (mà tất cả đàn bà dù siêu quần bạt chúng đến đâu cũng muốn dừng lại khi cập bến hôn nhân), có lúc Lan đã đi sâu vào cõi hoang tịch muôn đời của kiếp sống. Có lẽ bà đã đi quá sâu trong thế giới vỗ về của tình yêu bằng tâm hồn hơn là bằng thân xác nên đã nhìn thấy một cánh cửa mở vào cái cõi âm u ghê rợn này: 

 ta đi về chốn nào đâu 

 miên man trong cõi u sầu mênh mông 

 tái tê làm bước chân ngừng 

 ta đi lạc ở trong lòng đau thương 

Vâng, bà chỉ có thể đi lạc đường vào trong cõi đau thương mà thôi. Bà không thể nấn ná ở lâu hơn như đàn ông (dù là một người đàn ông đã có vợ và vô số nhân tình). Nhưng làm sao chúng ta đòi hỏi một người đàn bà phải kéo dài cái “thú đau thương” (chữ dùng của một thi sĩ tiền chiến) được, dù người đó xem ra rất tận tình, chung thủy và sẵn một tấm lòng hoài cảm mênh mông: 

 tay của người yêu run rẩy sang 

 từng trang vời vợi ôi từng trang 

 thời xưa còn lại bao nhiêu đó 

 bụi cũ bay mờ hoen không gian 

 Hãy nghe tác giả thở than kín đáo: 

 mùa thu này đến êm như khói 

 mưa cũng mong manh nắng cũng buồn 

 nên mỗi ngày qua như muốn nói 

 người yêu ơi sợ quá thời gian 


 đêm qua trong mộng rưng rưng khóc 

 thấy giữa mùa thu ngập lá vàng 

 một đóa linh hồn rơi lạc lõng 

 trong chiều tan tác ánh chiều tan 

Đọc đến đây tôi có cái cảm tưởng tất cả sắp chấm dứt. Và người xưa xa vắng trong tác giả cũng tan biến như sương khói nhường chỗ cho sự hiện diện cụ thể và chán chường của người vợ, người mẹ. Cho nên tôi không ngạc nhiên lắm khi thấy tất cả 6 bài thơ của Lan (do Phạm Duy cẩn thận đánh máy và sửa chữa từng chút cho tôi) đều ghi ngày tháng của một khoảng thời gian một năm (1959), một năm mà thôi, một năm thật thi vị của đời người con gái – tôi đoán. Nhưng Phạm Duy còn hứa khi khỏe sẽ bỏ công đánh máy thêm cho tôi một số nữa trong số 300 bài thơ còn lại của bà. Con số 300 bài mới thật làm tôi ngạc nhiên. Một người đàn bà đã viết được một số thơ nhiều như thế có thể đã vượt qua tình trạng một nhà thơ tài tử rồi. Nhưng ném một cái nhìn về mười lăm năm nay, rồi 30 năm trước rồi cả nghìn năm xưa ở đây, tôi đâm ra dè dặt; cho đến nay cái mảnh đất cong cong hình chữ S này – nơi tích tụ bao nhiêu nền văn minh thế giới và là nơi duy nhất chắc chắn đang làm một tổng - hợp - đề xương máu và kỳ diệu cho toàn thể thế giới – có sản xuất ra được một đấng quần hồng nào làm thơ chuyên nghiệp và sống quằn quại với thơ cho đến ngày xuống lỗ đâu. Không phải hỗn hào và vong ơn tiền nhân khi tôi phải nói thật: Đoàn thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan. v.v… dù có thông minh đến đâu đã có để lại cái gì đáng kể cho chúng ta lắm đâu. Dù sao tôi cũng muốn tin rằng mấy trăm bài còn lại của tác giả (mà tôi chưa hề đọc tới) một ngày nào đó, nếu có in ra, sẽ không làm tôi quá thất vọng như bao nhiêu trường hợp khác. Tôi cũng hy vọng sẽ gặp được một hai bài thật đạt và gần như toàn bích như hai bài tôi đã đọc cách đây gần mười năm; một bài lục bát nhẹ nhàng, mới mẻ, đầy hình ảnh, gợi cảm, sáng sủa với lời thơ dễ thương vô cùng nói lên được cái tâm hồn xao xuyến, lo sợ và tế nhị hiếm có của một đứa con gái ngập ngừng trước ngưỡng cửa của tình yêu và cuộc đời; một bài ngũ ngôn mang cái hồn vừa thản nhiên vừa lạnh lùng như trong thời đại phi thuyền không gian này: 

 chơi vơi trong niềm nhớ 

 mối sầu lên gần mây 

 trăng đã đi theo gió 

 tôi còn chờ nơi đây 

 Xin nhắc lại bài thơ này làm năm 1959, hai năm sau cuộc phóng chiếc vệ tinh nhân tạo 80 ký của Nga sô (vệ tinh thám hiểm không gian đầu tiên của nhân loại) mà thật ra từ sau hiệp định Genève 1954 nhiều người đã đoán trước và bàn bạc liên miên. Không hiểu một đứa con gái như tác giả lúc đó có lưu ý được gì đến bước nhảy thật dài đó của khoa học hay không. Không hiểu cô ta có giật mình khi ý thức rõ ràng cái mênh mông choáng ngợp của vũ trụ không. Chỉ biết cô ta biết tiết chế cái nữ tính vào cái tâm trạng bàng hoàng chung của thời đại: 

 có mối sầu bên cạnh 

 có mối sầu bên cạnh  

vẫn lạnh lùng hồn ơi 

 hương tình yêu mỏng mảnh 

 bay đi đâu xa rồi 

 để cho tình ý vừa đậm, vừa sâu, vừa xa vắng hơn. Càng đọc càng thấy nó dàn rộng ra mông lung. Vậy mà nó đã chịu nén trong mấy câu thơ năm chữ ngắn ngủi đó. Nó đã đạt có lẽ một phần nhờ vào đặc tính của thơ ngũ ngôn, một phần nhờ cái tài tự nhiên làm cô đọng cảm nghĩ của mình mà đồng thời không làm đặc ngôn ngữ, cái cạm bẫy của thơ ngũ ngôn luôn luôn giăng ra cho những anh chàng thi sĩ dáo dác và ham hố sa vào. Hãy đọc thêm một lần nữa hai câu: 

 có mối sầu bên cạnh 

 vẫn lạnh lùng người ơi 

 để thấy rõ ràng cái tâm hồn con gái không thường tình của bà. Tác giả đang yêu như mọi người, đó là cái chắc. Nhưng lọt vào cái thế giới đó rồi, đứa con gái là tác giả lúc ấy không nhắm mắt nằm yên để tận hưởng nỗi sầu mộng và nhớ nhung êm ái của mình. Bà đã không chịu dừng lại. Hay nói một cách chính xác hơn, cảm xúc đã dẫn bà chạy đi thật sâu đụng vào một cánh cửa mở ra một thế giới khác, thế giới thương yêu mà những tâm hồn lớn vẫn thường xuyên lui tới vừa như một biệt ân vừa như một hình phạt hay nghiệp dĩ: cảnh trời đất không cùng và nỗi đau khổ bao la nghìn đời của kiếp sống. Cho nên bà đã lạnh lùng, không phải lạnh lùng như một chứng bệnh tâm sinh lý bất hạnh nhất của riêng đàn bà, mà bởi cái cảm tính tinh vi cùng tâm hồn quá rộng lớn của tác giả. Không lạ gì khi thấy đứa con gái đang yêu đó đã nhìn thấy trong tâm tưởng: 

 hương tình yêu mỏng mảnh 

 bay đi đâu xa rồi 

 và trở về thực tại nặng nề có phần trơ trẽn, bứt rứt và chán chường: 

 trăng đã đi theo gió 

 thì còn chờ đợi ai 

 Đó cũng là một trong những bài thơ tình hay nhất, ít ra trong vòng mười lăm năm nay. Nó kết hợp tài tình tâm sự bé mọn riêng tư của một đứa con gái với cái tâm trạng chung bao quát của thời đại. Nó đánh bạo chở theo luôn cái không khí của thời đại và lấy đó làm không khí luôn cho bài thơ ngắn của mình. Thật khó tưởng tượng một đứa con gái làm thơ coi như tài tử là L.L.Lan lại thành công trong công việc đó. Vậy mà người ta không thể nào mổ xẻ xem những chữ nào, câu nào đã dung chứa được cái không khí âm u và cái tâm trạng mang mang đó. Bởi chữ và lời thì bình thường, còn kỹ thuật thì có gì cao và lạ đâu. Người ta chỉ thấy đứa con gái đó khôn ngoan chịu nhốt những ý tưởng của mình trong từng đoạn bốn câu thơ ăn cả vần trắc lẫn vần bằng xen kẽ nhau một cách chặt chẽ từ đầu đến cuối, như: 

 trời dài như tấm lụa 

 buông kín đầu ngàn cây 

 ngàn cây mê ngủ quá 

 gió lay hoài không hay 

 Mà tứ thơ lại vô cùng tự nhiên, nhẹ nhàng, chơi vơi (1) 

 Có phải thật sự một số luật lệ cố hữu nào đó trong thơ như vần điệu muôn năm vẫn là nơi thử lửa rực rỡ nhất của nhân tài hay không. Có phải đôi khi luật thơ càng chặt chẽ, thi tài càng phát hiện ngùn ngụt như bốc khói hay không. Có phải những phong trào thi ca Đa Đa, Dã Thú v.v… ở Âu châu tuy có khác nhau nhưng đã cùng đua nhau phá sản và đổ ào ào bởi vì muốn tiêu hủy hết những luật lệ mang tính chất gần như tiên thiên của thơ như vần điệu và sự liên hệ mật thiết giữa cách diễn tả và tư tưởng hay không. Người ta đã hô hào đi tìm lại cái có thể gọi là sự thật đích đáng hay chân lý chơi vơi ngoài những giao ước mặc nhiên và tự nhiên của ngôn ngữ. Những kẻ đứng đầu gió (chứ không phải những kẻ theo đuôi một cách vô ý thức) những phong trào này thật ra đã cảm thấy chới với cái bất lực của ngôn ngữ và cái lý sự đã cùng đường của mọi lý luận và mọi cảm nghĩ. Họ đã quằn quại đến cái độ tưởng như sắp điên thật rồi. Đó là cả một nhược điểm. Bởi vì họ đã không thâm trầm như những thi sĩ Đông Phương biết mình biết người, biết âm biết dương, biết trời biết đất để điều tiết những cựa quậy và vùng vẫy của ý thức mình. Mà trên hết cũng chỉ vì họ kém tài. Cho nên họ đã đưa thơ họ vào con đường cụt của sự tự sát ngu xuẩn nhất.

Nói như thế không phải lạc hậu, bảo thủ để đi đến chỗ không chấp nhận ngay những phá phách rực rỡ của thơ tự do. Tuy nhiên chúng ta chỉ công nhận những phá phách có thật và mạnh mẽ phát xuất tim máu óc não do cảm xúc bắn vọt ra hay đẩy tới từ từ mà kinh nghiệm cá nhân của tác giả viết bài này đã trải qua khi viết bài “Độc thoại” cách cả 10 năm:

 đàn ông thì có lông 

 đàn ông thì có một cái đầu 

 đàn ông thì tự sát 

 đàn ông thì còn sống 


 ô đàn ông đàn ông

Tôi đã dày công bỏ cả tháng trời với ý định thử rút cái ý tưởng cùng khí lực ngắc ngoẻo của bài thơ trên nhét vào một bài thơ thường (bốn chữ, năm chữ, sáu chữ, bảy chữ…có vần điệu đường hoàng) để xem thử nó có còn thơ và nhất là có gọn ghẽ, dễ nhớ hơn không. 

 Tôi đã thất bại hoàn toàn. Trước hết chúng không có cách chi hoàn hảo như những đoạn ngũ ngôn, tứ tuyệt có vần điệu thẳng rẵng ví dụ cũng của tôi như:

 một đêm trăng mờ ảo 

 anh tìm về thăm em 

 phố buồn như hoang đảo 

 gió ngừng ru bên thềm

của một người bạn trẻ là Đặng Tấn Tới: 

 mai kia ai ngờ 

 lòng cũ như mơ 

 lên con tàu mới 

 chạy về ban sơ 

 níu song cửa sổ 

 khóc ròng cảnh xưa

của một thi sĩ người Nam có tài là Trần Tuấn Kiệt: e

m hát trong rừng sao 

 tôi ngủ dưới cội đào 

 chợt mùa đông tuyết phủ 

 biết tìm em phương nào 

 và ngay cả của nhà thơ tài tử L.L.Lan: 

 chung quanh đêm tan mãi 

 từng làn ánh sáng phai 

 tôi nghe hồn run rẩy 

 chiếc bóng gãy làm hai

Tôi đã sẵn trớn đi xa hơn giới hạn một bài viết về một thi sĩ, một nữ thi sĩ, một nữ thi sĩ tài tử, một nữ thi sĩ tài tử ẩn danh hầu như chưa có độc giả nào biết là L.L.Lan. Tôi thật buồn khi được biết là tác giả đã bỏ làm thơ. Tôi thật chán nản khi biết rằng nếu tác giả có tiếp tục cũng chỉ rước lấy thất bại có thể tác giả chưa hề nếm mà thôi. (1) 

 Ôi! định mệnh đối với những thi sĩ Việt nam - nhất là đối với những nữ sĩ – sao khắt khe quá vậy! Họ sống quá ngắn với cái tuổi của thơ so với tuổi đời của họ. Riêng đối với L.L.Lan, người đã làm một số thơ kỷ lục bất ngờ về phía các nữ sĩ (trên 300 bài thơ theo lời nhạc sĩ có tài soạn lời ca rất thơ là Phạm Duy), chúng ta có lý do gì đặt một chút hy vọng gì không? Tôi cảm thấy một nỗi đau thương dịu dàng khi đã sinh cùng thời với tác giả mà không được gặp. Nhưng mà tại sao chúng ta lại tham lam như thế, không sợ cái hồn nữ sĩ của thời con gái với những tháng ngày mộng mị và thao thức trở về van xin hay sao: 

đừng lay tôi nhé cuộc đời 

 tôi còn trẻ quá cho tôi mơ màng 

 Nguyễn Đức Sơn (1) 

LTS: Toà soạn bỏ một số câu ở đoạn này. 

 Nguồn: Bách khoa – Ngày 15/10/1969, Số 307. 

Thư Quán Bản Thảo in lại, Số 50 tháng hai năm 2012